Dấu gạch-nối, sự đồng thuận hiếm hoi giữa cộng sản và cộng hòa

dấu gạch nối
Share

Trước khi tìm hiểu về dấu gạch nối (gạch-nối) xin mời các bạn xem 3 lưu ý dưới đây.

Các lưu ý:

1 Bài viết này chỉ là nhận định cũng như sự tìm hiểu cá nhân về dấugạch nối (gạch-nối), KHÔNG PHẢI là một nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ.

2 Bài viết này không nói về chính trị.

3 CẢNH BÁO tui có thể viết sai chính tả.

Sau biến cố tháng 4 năm 1975, dân tộc Việt Nam tạm thời chia thành 2 nhóm, nhóm trong nước (bị) theo chủ nghĩa cộng sản và nhóm ngoài nước theo lý tưởng tự do phương tây … tui gọi là nhóm cộng hòa trên tiêu đề (cộng hòa là viết ngắn lại của Việt Nam Cộng Hòa). Tui tự hỏi giữa 2 nhóm này có bao giờ cùng nhìn về 1 hướng và cùng đồng thuận chung 1 vấn đề gì không? Cho tới ngày tui tìm ra nó, đúng vậy dấu gạch nối (gạch-nối).

Từ khi chữ Quốc Ngữ ra đời (dùng ký tự la-tin để viết tiếng Việt, chúng ta không cần phải dung chữ tượng hình cực khổ nữa) cho tới trước ngày chấm dứt chiến tranh 30-04-1975 dấu gạch nối được sử dụng rất nhiều trong tài liệu, văn bản 2 miền nam bắc. Có thể do thể chế chính trị, trình độ chênh lệch, sự cải cách tiếng Việt không đồng nhất giữa 2 miền mà cách dùng dấu gạch nối có khác nhau, nhưng mà luôn luôn tồn tại dấu gạch nối trong văn bản. Văn bản có thể không sạch đẹp như hiện tại nhưng mà chắc chắn là dễ hiểu và khó hiểu lầm hơn (tui sẽ dẫn chứng ở dưới).

Rồi thời đại internet bùm nổ, người trong nước có thể đọc được những người Việt ở nước ngoài viết những gì và ngược lại, người Việt hải ngoại cũng có thể đọc được báo trong nước. Cái dấu gạch nối đó, không ai báo ai, biến mất không để lại dấu vết gì. Giờ nó chỉ còn trong những văn bản lưu trữ cũ xưa hoặc ở những tòa nhà cũ chưa bị đập đi ở trong nước.

Dấu gạch nối, sự đồng thuận hiếm hoi giữa cộng sản và cộng hòa.
Cài này là văn bản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền bắc
Dấu gạch nối, sự đồng thuận hiếm hoi giữa cộng sản và cộng hòa.
Cài này là văn bản của nước Việt Nam Cộng Hòa ở miền nam

Dấu gạch nối (gạch-nối)

Vốn là một người thích tìm hiểu, cộng thêm trình độ google không đến nổi tệ, tui quyết định tìm ra “kẻ” giết chết dấu gạch nối (gạch-nối) thân yêu. Nhưng mà có vẻ như những người am hiểu về vấn đề này “không” hoặc “chưa” có lên mạng để kể lể, để tiết lộ, nên thông tin mập mờ. Tui chỉ có thể nêu ra vài phổng đoán như sau

  • Suy đoán 1: con người ngày càng sống nhanh, làm việc nhanh, nên việc viết dấu gạch nối làm chúng ta chậm lại, thêm vào đó tiếng Việt phong phú và dân tộc Việt Nam vốn thông minh nên không cần giữ lại dấu gạch nối nữa, rồi không ai bảo ai, hậu bối làm theo tiền bối, cả người Việt trong nước và người Việt ở nước ngoài đều “giết” dấu gạch nối theo cùng 1 cách đó, gọi là tư tưởng lớn gặp nhau. – Tui không đoán mò nhe, xin mời xem dẫn chứng 1 ở bên dưới.
  • Suy đoán 2: sau 1975, chế độ mới muốn thay đổi, bỏ hết những gì tàn dư của chế độ cũ và những gì ảnh hưởng văn hóa xã hội từ thời phong cách (gần giống như cải cách văn hóa ở Trung Hoa đại lục), nên bỏ dấu gạch nối đi, sửa cách dùng từ (ví dụ: máy bay lên thẳng thay cho trực thăng, lính thủy đánh bộ thay cho thủy quân lục chiến …). Tuy người Việt ở nước ngoài nhiều nhưng không nhiều bằng người Việt trong nước nên thế giới theo số đông (kiểu như tiếng hoa giản thể) và những người Việt ở hải ngoại buộc phải theo – Tui không đoán mò nhe, xin mời xem dẫn chứng 2 ở bên dưới.

Trên đây là những nhận định cá nhân tui, phần nào giải đáp thắc mắc của tui, sự tò mò, cũng như tìm hiểu sự hay ho của dấu gạch nối (gạch-nối). Tui phải đào banh cái google lên, để có được 2 cái dẫn chứng dưới này. Nếu quý vị có biết thêm về “kẻ giết” dấu gạch nối thì comment bên dưới nhé.

DẪN CHỨNG 1

(tác giả tui không rõ luôn, bạn nào biết thì chỉ tui để tui thêm tên tác giả vào).

1-Gạch nối

Trong chữ Việt, gạch nối dùng để kết hợp những thành tố viết rời của một từ gồm nhiều âm tiết. Nếu viết riêng rẽ thì những âm tiết nói trên sẽ có một nghĩa khác, tức là nghĩa riêng biệt của từng âm tiết. Sau đây là một vài thí dụ:

– Ðộc có nghĩa là một, có số lượng chỉ một mà thôi. Lập có nghĩa là đứng thẳng. Ghép lại, độc-lập có nghĩa: 1. Tự mình sống, không dựa vào người khác. Sống độc-lập. 2. (Nước hoặc dân tộc) có chủ quyền. Nền độc-lập dân tộc.

– Bà là người đàn bà thuộc thế hệ sanh ra cha hoặc mẹ ta. Con là người thuộc thế hệ mà ta sanh ra. Ghép lại, bà-con có nghĩa là thân quyến, người có quan hệ họ hàng. Một người bà con xa.

– Cay là có vị như khi ăn ớt, ăn tiêu, ăn gừng hoặc khi uống rượu. Ðắng là có vị như khi ăn trái khổ qua, trái bồ hòn, mật cá hoặc uống thuốc bắc. Ghép lại cay-đắng (hay đắng-cay) có nghĩa là đau khổ, xót xa. Thất bại cay-đắng.

Như vậy, ta thấy gạch nối có một vai trò rất quan trọng. Nó dùng để phân biệt từ đơn với từ ghép. Từ cuối thế kỷ 19 và trong những thập niên đầu của thế kỷ 20 này, theo ngữ pháp, ta dùng gạch nối đối với những từ ghép, mục đích là để câu văn được rõ nghĩa. Trong học đường, thời bấy giờ, đối với những từ ghép, thiếu cái gạch nối là một lỗi chánh tả tương tự như các lỗi chánh tả khác: c với t (các/cát), ch với tr (chương/trương), d với gi (dang/giang), dấu hỏi với dấu ngã…

2-Ngữ pháp cũ

Qui tắc về việc sử dụng gạch nối trong tiếng Việt đã có từ cuối thế kỷ 19, thời chữ quốc ngữ mới được hình thành. Nhà bác học, cũng là nhà ngữ học Trương Vĩnh Ký (1839 – 1898) đã viết: “Ðể tránh lẫnlộn từ đơn và từ đôi, từ kép, chúng tôi đã chấp nhận, trong các từ điển, văn phạm và các ấn bản khác của chúng tôi, dùng gạch nối để xác định từ kép và ghép đôi một số mẫu âm khác của chúng tôi, dùng gạch nối để xác định từ kép và ghép đôi một số mẫu âm làm cho âm cuối dễ nghe như líu-lo, dăng-dẳng.” Gần đây, dựa theo các sách đã xuất bản, chúng tôi ghi nhận, trên những sách in trước năm 1975, các tác giả vẫn còn dùng cái gạch nối đối với những từ ghép. Sự kiện này cho biết, vào cuối thế kỷ 19 và hơn nửa đầu thế kỷ 20 này, những người làm giáo dục và văn học đã sử dụng cái gạch nối trong những trường hợp sau đây:

2.1 Từ ghép Hán-Việt:

tự-do, độc-lập, ngôn-ngữ-học, thuận-thinh-âm, hồng-thập-tự, tiềm-thủy-đỉnh, hàng-không-mãu-hạm, thủy-quân-lục-chiến.

2.2 Từ ghép thuần Việt:

– Từ kép, cũng gọi là từ láy, gồm một âm có nghĩa với một âm không nghĩa để cho xuôi tai: bạc-bẽo, dễ-dàng, đầy-đặn, khỏe-khoắn, líu-lo, mặn-mà, nhỏ-nhắn, nở-nang, sắc-sảo, vững-vàng, xót-xa.

– Từ kép gồm hai âm không có nghĩa riêng, nhưng khi ghép lại, hai âm tạo thành một từ có nghĩa chung: bâng-khuâng, hững-hờ, lai-láng, mênh-mông, mơn-mởn, ngậm-ngùi, thênh-thang.

– Từ kép gồm hai câu có nghĩa riêng: biển-dâu, bướm-ong, cay-đắng, đầy-đủ, mắm-muối, mệt-mỏi, phẳng-lặng, vàng-thau.

– Từ kép gồm hai âm đồng nghĩa: chợ-búa, dơ-bẩn, dư-thừa, đau-ốm, gầy-ốm, hình-ảnh, lãn-lộn, lựa-chọn, mập-béo, nhỏ-bé, nông-cạn, ô-dù, sắc-bén, thổi-nấu, thương-yêu, to-lớn, rơi-rớt.

– Từ kép gồm hai từ đồng âm: chậm-chậm, đời-đời, hàng-hàng, hay-hay, hiu-hiu, lớp-lớp, mãi-mãi, ngày-ngày, rầu-rầu, xa-xa…

2.3 Nhân danh (tên tục, tên hiệu):

Nguyễn-Du, Tố-Như, Trương-Vĩnh-Ký, Ðào-Duy-Anh, Dương-Quảng-Hàm, Trần-Trọng-Kim, Nguyễn-Hiến-Lê, Vương-Hồng-Sển.

2.4 Ðịa danh:

Việt-nam, Hoa-kỳ.

2.5 Danh từ riêng phiên âm:

Hoa-Thịnh-Ðốn, Mạc-Tư-Khoa.

2.6 Từ có quan hệ qua lại với nhau:

từ điển Hán-Việt, bang giao Mỹ-Việt, luật hỏi-ngã, thi văn cổ-kim, văn hóa Ðông-Tây, phát triển khoa-học-kỹ-thuật.

2.7 Danh từ chung phiên âm:

cát-xết, vi-đê-o.

Ðối với một số tên chung phiên âm đã hoàn toàn Việt hóa, ta bỏ luôn cái gạch nối: cà phê, cà vạt, câu lạc bộ, đô la, ga ra, nóc ao, ra đa, ra gu, ti vi, xích lô.

2.8 Một số từ ngữ mà các âm tiết không thể tách rời:

chợ-nhà-lồng, khô-cá-chỉ-vàng, tại-vị-bởi.

2.9 Giữa các con số chỉ ngày tháng năm:

ngày 1-1-1998

2.10 Giữa hai nhóm số chỉ năm để nói lên khoảng cách thời gian:

1975 – 1998.

Trên đây là những qui tắc trong việc sử dụng cái gạch nối khoảng trước năm 1975. Tuy nhiên cũng phải ghi nhận là việc dùng cái gạch nối này của những người làm văn hóa chưa thống nhất. Có tác giả áp dụng triệt để các nguyên tắc, nhưng cũng có tác giả chỉ áp dụng một cách đại khái hay tương đối, tùy theo quan niệm của mỗi cá nhân. Thậm chí, có trường hợp cùng một tác giả mà trong một bài viết, đối với các từ ghép (cả Hán-Việt lẫn thuần Việt) có lúc dùng cái gạch nối, có lúc không.

Xin trích dẫn một đoạn trong lời tựa “Vì sao có sách này?” của cuốn “Giản-yếu Hán-Việt Từ-điển” của nhà học giả tiền bối Ðào-Duy-Anh, viết ngày 1-3-1931, Nxb Minh Tân, Paris, in lại năm 1949:

Vô luận nước nào, văn-tự đã phát đạt đến một trình độ khá khá đều phải có những sách Tự-điển hoặc Từ-điển để làm tiêu-chuẩn và căn-cứ cho người học. Quốc-văn của ta ngày nay đã có chiều phát đạt, thế mà ta chưa thấy có một bộ sách Tự-điển hoặc Từ-điển nào, đó thực là một điều khuyết-điểm lớn mà ai cũng phải công-nhận.

Trong đoạn văn trên đây, theo nguyên tắc, những từ in nghiêng phải có cái gạch nối, vì đó là những từ Hán-Việt và từ ghép thuần Việt. Nhưng vì sao tác giả không dùng gạch nối? Sự kiện này cho thấy, việc sử dụng cái gạch nối khó đạt đến sự thống nhất như trên lý thuyết.

3-Ngữ pháp mới

Khoảng từ năm 1975 cho đến nay:

3.1 Trong năm trường hợp ghi từ mục1 đến 5 trên đây, tuyệt đại số những sách báo xuất bản trong nước và tại hải ngoại, ta đã xóa bỏ hẳn cái gạch nối. Sự “cải cách” này đã diễn ra âm thầm. Có phải chăng nó đã xuất phát từ một “ngữ pháp bất thành văn.” Các tác giả tiền bối lần hồi bỏ cái gạch nối. Thế là các tác giả hậu bối cũng theo gương.

3.2 Trong năm trường hợp kế tiếp, từ mục 2.6 đến 2.10, ta vẫn duy trì gạch nối.

3.3 Từ ngày trong nước và ở hải ngoại hai phương tiện điện thoại và điện thư (fax) được phổ biến, ta đã dùng cái gạch nối để phân cách các nhóm số của hai hệ thống này. Ðiện thoại: 714 – 500-4000, Ðiện thư: 714 – 800-7000.

3.4 Chúng ta thử tìm hiểu xem nguyên nhân nào khiến cho, sau năm 1975, cái gạch nối đã được xóa đi trong năm trường hợp từ 2.1 đến 2.5.

Thực tế cho thấy, việc dùng gạch nối ở năm trường hợp nói trên đã gây một số bất tiện và phiền phức.

– Người viết phải bận tâm đến cái gạch nối, mất thời giờ suy nghĩ, thời giờ viết lên giấy và thời giờ dò lại bài xem có sai sót không?

– Trong ngành ấn loát, người đánh máy và người sắp chữ phải nhọc công và khổ sở vị cái gạch nối. Trước kia, trong thời kỳ ngành ấn loát nước ta còn lạc hậu, việc sắp chữ để làm bản in “typo ” được thực hiện theo lối thủ công. Trong công việc sắp chữ, thêm một cái gạch nối kể như thêm một con chữ.

Việc xóa bỏ gạch nối không ảnh hưởng trầm trọng đến câu văn về mặt ngữ nghĩa. Người đọc bình thường dễ dàng phân biệt từ đơn và từ ghép. Cả người viết và người đọc đã mặc nhiên hiểu ngầm là các từ ghép Hán-Việt và thuần Việt luôn luôn được nối với nhau bằng cái “gạch nối vô hình.” Ta đã “hi sinh” cái hợp lý để đổi lấy cái thực dụng, cái giản tiện. Ngày trước, có cái gạch nối là hợp lý. Ngày nay không có cái gạch nối cũng hợp lý. Ngữ pháp chung qui chỉ là một qui ước, một sự giao ước giữa người viết và người đọc.

 

DẪN CHỨNG 2 – tác giả Hoàng Hữu Phước

(xin phép sửa lại bố cục trình bày 1 tý)

1- Dấu Gạch Nối

Dấu gạch nối đặc biệt giữ cho tiếng Việt được trong sáng đó là dấu nối các chữ của cùng một từ lại với nhau. Do đặc điểm của tiếng Tây là đa âm và tiếng Việt là đơn âm, dấu gạch nối trở thành công cụ biến tiếng Việt dễ được nhận diện ngang hàng với tiếng Anh hay Pháp, v.v., chẳng hạn:

Máy dịch có thể qua công cụ dấu gạch nối có thể nhận diện ngay “anh-hùng” là một từ duy nhất của tiếng Việt cũng như nhận diện ngay “conterrevolutionary” là một từ duy nhất khác của tiếng Anh. Nhưng nếu là “anh hùng” thì đương nhiên máy dịch sẽ trước hết xem đó là một cụm gồm hai từ riêng rẻ rồi võ đoán cho ra bao điều khiến nhiễu thông tin. Qua bảng dưới đây :

“ANH HÙNG LÀ MỘT ANH HÙNG DÂN TỘC” rất có thể bị máy dịch thành
– Ông Hùng là một anh hùng dân tộc
– Anh Hùng là một anh hùng người dân tộc (thiểu số)
– Anh Hùng (này) là anh Hùng người thiểu số (khác với Anh Hùng kia là người Kinh)
– Anh Hùng (này) là anh Hùng thuộc người dân tộc Tộc (khác với anh Hùng người dân tộc Mường)

Hoặc “TỪ NAM QUAN ĐẾN CÀ MAU” có thể bị biến dạng thành:
– từ cửa nam đến quả cà mau lẹ
– (chạy) từ (chỗ) Ông Nam Quan đến (nhà) Cô Cà mau lên nào!

Và “TÌNH YÊU CAO THƯỢNG” có nguy cơ thành:
– Cô Tình yêu anh Cao Thượng
– Cô Tình yêu một người Thượng cao to
– Cô Tình yêu một người dân tộc thiểu số có dáng cao

Đó là chưa kể tên của người Việt đã không còn thuận lợi khi chuyển sang tiếng Anh: thí dụ đối với những yêu cầu ghi tên họ không cần ghi chữ lót, thì Hoàng-Hữu-Phước vẫn là Hoang Huu Phuoc, hoặc Hoàng Hữu-Phước sẽ thành Huu-Phuoc Hoang và được gọi là Mr Huu-Phuoc; trong khi với việc loại bỏ dấu gạch nối, Hoàng Hữu Phước sẽ chỉ là Phuoc Hoang. Đặc biệt với người dân có tên dài hơn ba chữ thì rõ ràng sẽ gặp bất lợi khi tên của mẹ cha ông bà đặt cho trở thành hỗn loạn, thí dụ Trần Hoàng Việt Nam Quốc, nếu là Trần Hoàng Việt-Nam-Quốc thì chí ít Viet-Nam-Quoc Hoang Tran không biến thành đại họa của nào là Quoc Nam Viet Hoang Tran hoặc ngắn ngủn Quoc Tran vì bỏ tất cả những từ bị cho là “từ lót”, làm mất uy thế và nét đặc biệt của tên gọi. Cần nhớ rằng ngay cả tên của dân Âu Mỹ cũng có khi có gạch nối, và đó không phải là điều lạ lẫm gì nếu ghi nhận thêm rằng dường như ở trời Âu chỉ có phận quyền quý cao sang tự xưa mới còn mang dấu gạch nối cung đình ấy.

Những sự cố nêu trên cũng chỉ vì dấu gạch nối liên kết những phần của một từ chung duy nhất đã không còn được sử dụng, khiến tiếng Việt ngày nay chỉ còn là những từ rời rạc được gom lại thành câu với chỉ riêng người Việt hiểu nghĩa, còn du học sinh nước ngoài bị đánh đố phải gần như thuộc lòng các cụm từ thân quen chứ không thể sáng tác thơ văn tiếng Việt – trong khi nhiều người Việt sáng tác thơ văn tiếng Anh hay Pháp thật dễ dàng; và tất cả các bộ óc điện tử phải bó tay.

2- Vấn Nạn Một Số Phận

Tôi vẫn còn nhớ sự khó chịu và cảm giác bực dọc của Ba tôi, của Chị Hai tôi, và của tôi khi đọc số báo đầu tiên ở Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 lịch sử không thấy có các dấu gạch nối. Lúc ấy, tôi biết mình phải làm gì: tập viết không có dấu gạch nối kẻo có ngày phải ra khỏi trường đại học vì viết tiếng Việt không ai giống. Thủa ấy, làm gì có computer, làm gì có digital media. Tất cả đều chân phương như những gì các chữ cái bằng hợp kim của máy đánh chữ bập xuống trang giấy A4 ố vàng đầy cát bẩn của thời gian khổ dưới sự cấm vận tàn độc của Hoa Kỳ. Nhưng tôi đã nói với mấy đứa em rằng tiếng Việt sẽ hỗn loạn vì giềng mối gắn kết không còn. Ấy vậy mà sự thể lại y như vậy khi thời đại digital đến và tiếng Việt không thể tương hợp với các máy dịch thuật điện tử ngày nay.

Tất nhiên, khó có còn ai nhớ đến dấu gạch nối đã từng tồn tại như một thứ mật mã Da Vinci ngàn xưa đến ngày nay mới giải nguồn thánh tích, và cũng chẳng ai hay dấu gạch nối đã bị âm thầm nhưng nhanh chóng gạch bỏ khỏi đời sống ngôn ngữ Việt văn hoa. Trong sự sung sướng tột cùng của đa số trong ngày giải phóng, và trong sự hoảng loạn dày xéo nhau trong khiếp sợ của một thiểu số khác, cả hai thái cực quá mạnh mẽ đã làm tan biến đi sự lưu ý đến sự biến mất của một dấu gạch nối cỏn con như một insignificant nonentity – sự tồn tại vô nghĩa lý. Và cuộc sống vẫn tiếp diễn, chứng kiến bao đổi thay với những kỳ công và kỳ tích cả thế giới phải cúi chào trân trọng.

Song, trong tôi vẫn đau đáu một nỗi niềm vọng cổ về dấu gạch nối của ngày xưa Hoàng Thị.

3- Phát Triển Tiếng Việt Toàn Cầu:

Trên thế giới có nhiều người học tiếng Việt. vào những năm 1960 ba tôi đi làm hay đem về cho tôi những quyển Thế Giới Tự Do của Mỹ in bằng tiếng Việt, và tôi đã đọc những bài viết về đông đảo sinh viên Mỹ theo học các lớp tiếng Việt, tiếng Lào, tiếng Miến Điện (tức Burma thủa ấy hay Myanmar ngày nay), v.v và v.v. để dễ kiếm việc trong ngành ngoại giao, an ninh tình báo, hay công tác hoặc giảng dạy ngoài nước. Họ học tại Mỹ – tất nhiên. Một sự khôn ngoan: đem tiếng họ sang chư hầu để gây ảnh hưởng văn hóa với tầng lớp trên trước ở nước sở tại, và học tiếng sở tại để nắm và kiểm soát những người còn lại thuộc tầng lớp không vói được đến tiện nghi văn hóa và ngôn ngữ mẫu quốc. Ngày nay còn nói như trên đã là lạc hậu vì toàn cầu hóa và suy thoái kinh tế mới là những vấn đề của ngày nay và mai sau. Việt Nam không thể như Trung Quốc biến chữ Tàu thành một trong những ngôn ngữ chính thức được dùng ở Liên Hợp Quốc bằng cách để dân có mặt đông đảo ở mọi ngóc ngách của hành tinh. Nhưng Việt Nam vẫn có thể biến tiếng Việt ngày càng được nhiều người học hơn, học nhanh hơn, học với sự sáng tạo và tầm sử dụng rộng hơn và chủ động hơn, để sử dụng chiến thuật “từ đồ dần dà” phát triển tiếng Việt trên toàn thế giới trong hệ thống khoa học, chuẩn hóa, tương thích với các công cụ thời kỹ thuật số.

4- Lời Kết

Dù cho dấu gạch nối có được khôi phục để đáp ứng yêu cầu của kỹ thuật số hay không, dấu gạch nối vẫn sẽ như một nét đẹp điểm tô từng cụm từ tiếng Việt, như một chân phương, thẳng ngay, đoàn kết, minh bạch, sắt son, sang cả như ngọc châu chạm trổ, và bình dị như vốn có. Mong sao sẽ được nhìn thấy dấu gạch nối thân quen đã hơn ba mươi năm trời xa cách.

Dấu gạch nối (gạch-nối) ơi, ta trông-chờ mi đến mõi-mòn, da-diết, như trang quân-tử nơi sơn-trang đội thời-gian chờ-đợi người lữ-thứ đem đến một tin vui của hân-hoan và hạnh-phúc từ thục-nữ chốn kinh-thành.

 

Share

Comments

comments

Có thể bạn quan tâm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *